Chủ Nhật, 8 tháng 2, 2026

TỪ LÀNG RA THẾ GIỚI

 

Cái Tạp chí Đầu tư Tài chính của Hiệp hội tư vấn tài chính VN tết nào cũng ra một số rất hoành, tới 300 trang khổ lớn, giá bán 198K. Tại sao không 200 mà chỉ 198 cũng là... đầu tư tài chính he he.

 Và năm nào họ cũng mời một số nhà văn nhà thơ góp mặt. Rồi tổ chức một cuộc gặp mặt tại HN, nhận Tạp chí và NB, rượu ngon mồi bén một trận tất niên.

Ông nhà văn Nguyễn Thành Phong được nhờ "gom" bài của cánh nhà văn. Năm nào nhà cháu cũng "bị" ông nhắc, nhanh, gọn dứt khoát và đương nhiên nhà cháu phụng chỉ.  

Bài đây ạ. Có chi mô nơ?

 

* Chuyện chưa xưa.

Bằng một quyết định dứt khoát, dù mới nhận chức, tức khi ấy là tân chủ tịch sau nhập tỉnh, chủ tịch tỉnh Gia Lai lệnh: Phá bỏ cái công trình quái gở ở ngay chân núi lửa Chư Đang Ya, là một địa chỉ nổi tiếng của tỉnh Gia Lai cũ, và cả tỉnh mới bây giờ. Nó vốn là một cái miệng núi lửa khổng lồ đã nguội hàng triệu năm nay, trước nơi này thuộc huyện Chư Păh, nhưng sau khi sáp nhập, nó “được về” với xã Biển Hồ trước khi Gia Lai nhập với Bình Định, khi này xã Biển Hồ đang thuộc thành phố Pleiku.

Được biết, toàn bộ dự toán cho công trình này là 9,4 tỉ đồng và đã kịp giải ngân, tức làm được 4,6 tỉ. Và, số vốn đầu tư này là từ nguồn “Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi”.

Tức là người ta, chả biết tính toán thiết kế thế nào, nhưng một hôm, mở mắt ra, bỗng thấy một đống lổn nhổn bê tông, thấy cao vút cái tháp nước, thấy bề thế một dãy nhà vệ sinh, và cái chuẩn bị là mái cái nhà rông, áp sát, che chắn cái núi lửa, cái mà người ta dựa vào nó để định “phát triển không gian” giờ lại bó chặt và che hẳn mặt tiền của nó.

Bây giờ hủy bỏ, trả lại mặt bằng, đồng nghĩa phải bỏ đi 4,6 tỉ ấy. Có một thông tin là sẽ “trả lại” toàn bộ 9,4 tỉ đồng ban đầu cho dân làng tự làm, tất nhiên có sự giám sát và tham gia của các chuyên gia, thế tức là, những người đã làm hết 4,6 tỉ kia phải chịu trách nhiệm với số tiền không nhỏ ấy.

Chư Đang Ya được một tạp chí du lịch của nước Anh bình chọn là một trong 10 ngọn núi lửa đẹp nhất thế giới. Thế mà suýt nữa nó bị cái “công trình thế kỷ” gần chục tỉ kia nuốt chửng.

Và, chuyện tôi kể trên chỉ là “một trong những” nhiều chuyện đã xảy ra, giữa văn hóa truyền thống và hiện đại, giữa phát triển “bằng mọi giá” và bảo tồn, giữa nhân danh và lợi dụng, giữa hiền minh và hung bạo, giữa tự nhiên và phản tự nhiên, phá hoại vân vân...

Loài người khi bắt đầu có ý thức xây dựng nhà ở, thì bắt đầu lập làng. Nhiều ngôi nhà của một cộng đồng trong một khu vực chung gọi là làng. Tất nhiên đấy mới là ý nghĩa cơ học. Để gắn kết với nhau còn rất nhiều yếu tố tinh thần, tâm linh để làng thành một khối thống nhất, đến mức mà người Việt có câu "Phép vua thua lệ làng". Một trong những yếu tố quan trọng của làng, cả về vật chất và tâm linh, là đình làng của người Kinh và nhà rông của người Tây Nguyên.

Bây giờ nhà rông chỉ còn ở vùng người các dân tộc phía Bắc Tây Nguyên, đậm đặc nhất là ở người Jẻ Triêng, người Sê Đăng, K'tu, Bahnar, càng về phía Nam có vẻ như nhà rông càng thoái hóa, nó được thay bằng nhà dài, dù về tính chất nó khá khác nhau, nhà dài là của gia đình, của cá nhân, nhà rông là của làng. Có nhà nghiên cứu giải thích rằng, có thể ngày xưa tất cả các dân tộc sống trên dải Trường Sơn Tây Nguyên đều có nhà rông, nhưng rồi vì nhiều lý do, nó mất dần để rồi chỉ còn ở các làng cư dân Bắc Tây Nguyên.

Nhà rông chỉ gắn với làng. Mỗi làng có một nhà rông, một vài làng có 2 nhà rông, nhà rông đực và nhà rông cái. Đực dành cho đàn ông và cái dành cho phụ nữ. Làng càng hùng mạnh thì nhà rông càng lớn. Nó không chỉ là yếu tố vật chất mà còn mang yếu tố tinh thần, yếu tố tâm linh rất lớn, rất quan trọng đối với làng.

Không phải ai cũng biết làm nhà rông. Bà con các dân tộc Tây Nguyên không có các "hiệp thợ" chuyên nghiệp như người Việt, nên yếu tố chuyên nghiệp hoàn toàn không có. Trong đời, ai được tham gia làm vài ba nhà rông là đã may mắn lắm.

Già làng là người quyết định việc làm nhà rông. Sau đấy thì có một "nghệ nhân" lĩnh nhiệm vụ chỉ huy. Tất cả mọi thành viên của làng đều phải tham gia, mà việc đầu tiên là vào rừng lấy gỗ, tranh. Có những ngôi nhà rông đến mấy chục cây cột bằng gỗ trắc khổng lồ, vài ba người ôm không khít vòng.

Toàn bộ nhà rông chỉ được làm bằng... ước lượng. Không thước tấc, không cưa bào đục. Chỉ có rìu và rựa. Không đinh, thép, xi măng, bù loong đinh ốc vân vân. Và chúng ta đã biết, nhà rông luôn làm ở giữa làng, ở vị trí cao nhất. Mà làng Tây Nguyên thì lại luôn ở trên cao. Thế mà nhà rông được ví như sự trường tồn, sức mạnh của buôn làng. Nó cao vút như lưỡi rìu lộn ngược tạc vào trời xanh, và nó chứa trong lòng nó hàng trăm người lên xuống sinh hoạt hàng ngày.

* Kon Sơ Lăl.  Và, cách cái nơi người ta làm cái nhà rông bê tông ấy không xa là một ngôi làng có tên là Kon Sơ Lăl, bà con tự làm cái nhà rông truyền thống đẹp đến mê hồn. Nó khác hẳn với mấy khối bê tông đang che hết Chư Dang Ya kia, nên quyết định dừng thi công, theo tôi là hoàn toàn đúng.


Như đã nói, có thể trước đó tất cả mọi tộc người Tây Nguyên đều có nhà rông, nhưng hiện tại từ người Jrai ở địa bàn Đăk Lăk trở vào người ta không thấy nhà rông nữa, mà thay thế bằng nhà dài. Có tộc người ở phía thấp của dãy Trường Sơn như K’tu vùng Quảng Nam (cũ) thì nhà rông thường nhỏ và thấp. Tên gọi cũng khác, họ gọi là nhà Gươl. Nhà rông của người Jẻ Triêng Kon Tum (cũ) cũng nhỏ và thấp gần như K'tu, trong khi sát đấy, nhà rông người Sê Đăng rất cao và hùng dũng.

Ở làng Kon Sơ Lăl, hiện nay có cái nhà rông truyền thống cực đẹp, cực chuẩn, cực... nhà rông, mà có kiến trúc sư nói với tôi là, nó mang một tỉ lệ vàng trong kiến trúc, nhưng những người làm ra nó lại toàn tay ngang, có người chưa ra khỏi làng, nhiều người mù chữ. Nó là công sức của cả dân làng, mỗi người một tay. Tất nhiên là có sự tham gia của nhà nước. Vấn đề là, nó không cần "thiết kế", nó được làm từ những đôi tay, khối óc và trái tim dân làng. Nó đẹp đến không muốn rời đi. Và buổi chiều, khi tôi vào nhà rông thì rất nhiều thanh thiếu niên đang vừa nằm vừa ngồi tránh nắng, xem phim. Nó khác hẳn hàng loạt nhà rông văn hóa khác giờ cứ ngơ ngác trong nắng trong gió Tây Nguyên, và... chờ sập...

Bây giờ, nhà rông đúng nghĩa nhà rông, nó hiếm vô cùng. Thế nên cái nhà rông của làng Kon Sơ Lăl nó trở thành cực hiếm.

* Cồng chiêng Tây Nguyên xuất ngoại.

“Cồng chiêng Tây Nguyên” bây giờ như một mặc định gắn liền, tức phàm là cồng chiêng là của Tây Nguyên dù các dân tộc phía Bắc cũng nhiều, ví dụ cồng Mường. Nó được UNESSCO công nhận “Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên là kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể nhân loại”, nhưng ít ai biết rằng, người Tây Nguyên không làm ra cồng chiêng, mà người Tây Nguyên đổi trâu bò voi và các sản vật từ rừng cho người Kinh ở Quảng Nam, Bình Định (cũ), cho người Lào, người Mã Lai..., mang về và biến thành của mình nhờ “thêm” vào mấy yếu tố: người chỉnh chiêng, không gian chiêng và người sử dụng chiêng.

Ban đầu nó là đồ tín ngưỡng, rồi là tài sản, nên ta nghe họ định giá những bộ chiêng nhiều voi nhiều trâu là thế. Tới bây giờ thì nó thành... nhạc cụ.


Và vui là, vài năm trước, chính xác là năm 2023, có một đoàn nghệ nhân cồng chiêng Tây Nguyên được Hàn Quốc mời sang dự “Lễ hội âm thanh thế giới lần thứ 22”. Thông tin cho biết, bên cạnh âm nhạc hiện đại, các nghệ nhân đến từ Uzbekistan, Chile và Việt Nam sẽ trình bày dòng nhạc dân gian đặc trưng của mình. Với chủ đề “Cùng bảo tồn và phục hồi” (Co-existence and Resilience), cuộc gặp gỡ lớn năm nay diễn ra trong 10 ngày (từ ngày 15 đến 24-9), với 89 chương trình nghệ thuật, 105 buổi biểu diễn và hội thảo.

Thạc sĩ Nguyễn Quang Tuệ, là người dẫn đoàn đi, khi ấy là trưởng phòng nghiệp vụ của sở Văn hóa Gia Lai (cũ) kể lại: “Cồng chiêng ban đầu được mặc định là linh khí, tiếng chiêng là tín hiệu để thông quan, kết nối con người với thần linh. Do vậy, cồng chiêng cần một môi trường hẹp riêng dành cho nó. Qua thời gian, công năng ban đầu của cồng chiêng được mở rộng. Không chỉ phục vụ các hoạt động tín ngưỡng truyền thống, cồng chiêng từ dè dặt đến mạnh mẽ khẳng định mình tại các hoạt động văn hóa, du lịch. Một cách thật nhẹ nhàng, cồng chiêng chính thức đã được xem như một nhạc cụ phổ biến của người Tây Nguyên. Sự chuyển đổi này rất có ý nghĩa, bởi nếu không cồng chiêng sẽ không còn đất “dụng võ” trong thời đại mới.

Không có đoàn diễn viên, nghệ nhân của quốc gia nào tham dự sự kiện này lại đi chân đất, đóng khố và chơi cồng chiêng trên sân khấu hiện đại một cách say sưa và cũng không có đoàn nào mang theo nhiều chiêng trống và các loại nhạc cụ tre nứa tự tạo như ta.

Hơn tất cả, trong lời giới thiệu về đoàn mình, tôi đã nói rất rõ rằng, đây là những người nông dân, phần lớn lần đầu tiên được đi máy bay và lần đầu tiên đến Hàn Quốc. Nhiều khán giả quốc tế xem trực tiếp đã có phần sốc khi đón nhận thông tin về các “nghệ sĩ chân đất” của Gia Lai. Sau đó, họ dần chuyển sang thán phục, dù vẫn lúng túng khi tự lý giải vì sao cả một dàn chiêng đơn sơ lại mang đến những âm thanh diệu kỳ đến vậy”.

Theo tôi biết, người đầu tiên được cho là mang nhạc cụ Tây Nguyên, cụ thể là cây đàn T’rưng ra nước ngoài, là nghệ sĩ Nay Pharr (Phia). Ông là người Jrai vùng Ayun Pa, nguyên là diễn viên đoàn văn công Tây Nguyên được thành lập ở miền Bắc thời còn chiến tranh. Và là người cải tiến cây đàn này từ 11 ống lên 15 ống. Nói nước ngoài, nhưng hồi ấy chủ yếu là đi diễn các nước xã hội chủ nghĩa, đủ mười mấy nước trong khối, và tất nhiên là được hoan nghênh, vì nó lạ, và cũng hay thật sự, nhất là khi nó tham gia đệm cho các bài hát hiện đại.

Giờ cây đàn T’rưng ấy đã được cải tiến rất nhiều. Cũng như cồng chiêng, ngày nay thanh niên cũng dùng để đệm cho các bài hát mới. Từ mỗi người một chiêng, phụ trách một nốt, giờ có thể cả dàn chiêng treo chỉ một đến hai người chơi.

Và thú vị là, té ra, trước khi đổi chiêng của người Kinh, người Lào, người Mã Lai như nói trên, người Tây Nguyên làm chiêng tre để chơi.

Bây giờ du lịch phát triển, người ta đang khuyến khích các nghệ nhân mày mò làm lại chiêng tre. Và đã có những làng Tây Nguyên người dân đang trở lại chơi chiêng tre.

Thì cũng như đàn đá, nó xuất hiện khi chưa có các loại nhạc cụ nhẹ và chuẩn như sau này, phục vụ nhu cầu con người một giai đoạn dài, cho tới khi bị thay thế, để giờ, nó lại được “khai quật”, trở thành nhạc cụ độc đáo. Tất nhiên cái khó nhất của nó bây giờ vẫn là... chuyên chở đến nơi biểu diễn, chứ người chơi cũng không khó lắm, sau nghệ sĩ nhân dân Đỗ Lộc, được coi là bậc thầy đàn đá, giờ nhiều nghệ nhân, và cả nhạc công chuyên nghiệp chơi được.


 Nhà rông Kon Sơ Lal


 




 

 

 

 

 

 

 

 

1 nhận xét:

Ngô Chí Trung nói...

Một bài viết hay về văn hóa truyền thống các đân tộc cao nguyên!