Tây Nguyên có nhiều bí ẩn, có những bí ẩn đã có thể
giải mã, nhưng có những bí ẩn vẫn đang là... bí ẩn. Mà, cuộc sống, có khi có
những điều, cứ để nó bí ẩn thế nó lại thú vị, lại hấp dẫn, lại vi diệu, lại
sinh động, chứ cứ chẻ hoe ra, bạch hóa ra, trắng phớ hết ra, có khi lại chả còn
gì để hấp dẫn.
Ví
như cồng chiêng giờ là đặc sản của Tây Nguyên, như là độc quyền của người Tây
Nguyên, nhưng té ra, người Tây Nguyên lại không làm ra chiêng. Họ trao đổi với
người Kinh, làng đúc đồng Phước Kiều (Quảng Nam), hoặc An Nhơn, hoặc người Lào,
thậm chí là người Mã Lai. Vì thế trong hệ thống chiêng có chiêng Joăn, chiêng
Lao là thế. Vấn đề là, họ sinh ra một loại người kỳ tài, những nghệ nhân siêu
đẳng, để làm một việc siêu đẳng, chỉnh chiêng. Phải chỉnh chiêng thì những bộ
chiêng của người Việt, người Lào, người Mã Lai mà họ mua về ấy, mới trở thành
chiêng Tây Nguyên bây giờ. Đơn giản, rất đơn giản, nhưng... hết sức kỳ vĩ, hết
sức đặc trưng, hết sức... xứng danh tài năng, tài hoa và tài mọi nhẽ, làm nên
một Tây Nguyên vĩ đại...
Hay
như rượu cần (ghè) tùy cách gọi. Người Tây Nguyên chưa làm ra ghè. Họ đi trao
đổi về. Và từ những cái ghè bình thường ấy, họ cho ra đời cái thứ nước thần
thánh, thứ nước mà cả nhân loại này, từ hàng vạn năm nay, dân tộc nào cũng biết
cách chế ra, mỗi nơi mỗi cách, để phục vụ mình, phục vụ sự bình an khoái lạc
của con người.
Và
họ biến những cái ghè đựng rượu ấy thành vô giá. Thành tài sản, có cái đổi bằng
voi bằng trâu trắng, tức là cả cơ nghiệp, là quý hơn những gì quý nhất của họ.
Và chưa hết, những cái ghè đựng rượu ấy còn tham gia vào đời sống tinh thần của
họ, từng gia đình hoặc cả làng.
Cách đây chừng hơn hai chục năm,
chúng tôi được báo là ở làng nọ có một chiếc ché cổ. Ché cổ ở Tây Nguyên thì
thiếu gì, Hà Nội, Sài Gòn... còn nhiều hơn (do những người buôn tích trữ).
Nhưng không, chiếc ché này vừa cổ vừa thiêng, lạ lắm, phải đến mới biết... Tôi
hăng hái tháp tùng cố giám đốc sở Văn hoá Gia Lai Kon Tum Trịnh Kim Sung cùng một
số cán bộ chức năng trên chiếc xe Jeep tiến về Phú Bổn, vào một ngôi làng Jrai
ngay bên quốc lộ 25 thuộc huyện Ayun Pa (nay thuộc Phú Thiện). Được báo trước,
chúng tôi vào thẳng nhà anh K'Pao (trong sổ tay của tôi tên anh bị nhòe nên
không chính xác tên có đúng không), chủ nhân của chiếc ché cổ. Mới nhìn từ xa
sau khi chủ nhà lật tấm chăn phủ, nó giống như mọi chiếc ché khác. Đây là loại
ché to, cao cỡ ngang ngực người, màu da lươn thông thường. Một con gà do chúng
tôi mua được làm thịt để cúng, báo với Yang rằng có người lạ xem ché. Tiết gà
được cắt trực tiếp vào ché mấy giọt, còn lại hứng vào đĩa. Lòng gan mề tim phổi...
mỗi thứ một ít cùng với tiết trong đĩa bày bên ghè rượu. Chủ nhân cúng bằng tiếng
Jrai đại loại là hôm nay có khách là các nhà báo, nhà văn hoá... đến thăm ghè.
Có tí rượu, tí thịt cúng ghè để ghè chứng giám... Phải khoảng hai giờ đồng hồ
chúng tôi mới tới gần được chiếc ché cổ. Thế nó có gì lạ? Thứ nhất là nó cổ.
Thì hẳn là cổ rồi. Theo chủ nhân của nó nói thì chiếc ché này đã truyền qua 15
đời, đến đời anh đang sở hữu là thứ 16. Thứ hai là nó đắt, có người đã trả đến
50 con trâu trắng vào thời điểm cách đấy... năm chục năm. Thứ ba là nó thiêng.
Cũng chủ nhân của nó cho biết, mỗi tháng anh phải cho nó ăn... tiết gà 3 lần.
Thế công dụng của nó. Cũng theo chủ nhà, nó có thể báo trước những điều sắp xảy
ra trong gia đình, trong dòng họ bằng cách đổi màu đỏ như máu. Tôi ghi là màu đỏ
như máu nhưng chủ nhà nhất quyết là nó chảy máu. Năm 1975, vào đầu tháng 3, khi
mà Pleiku chuẩn bị thất thủ, đường 25 tức đường 7 trở thành đường máu, chiếc
ché này đã đổi màu suốt một tuần liền. Sau đấy mấy năm, lúc bố anh chuẩn bị mất
một cách đột ngột, nó cũng đổi màu như thế. Trong làng có người đau ốm, đến
cúng, sẽ khỏi? Trẻ em khóc về đêm, khóc ngằn ngặt, ai dỗ cũng không nín, làm
cách gì cũng không ngủ, bế đến cho sờ vào tai ché, nín liền, ngủ ngon lành như
chó con... Theo người nhà, thỉnh thoảng chiếc ché này còn... khóc như trẻ con,
và chỉ khóc vào ban đêm. Những lúc ấy mọi người sợ lắm, lại làm gà cho ché
ăn... tiết vì mọi người nghĩ rằng nó... đói...
Tất cả những điều trên, chúng tôi chỉ...
nghe kể. Còn hôm ấy thì toàn bộ công dụng cũng như sự huyền diệu của ché chúng
tôi không được chứng kiến, đơn giản vì không có ai đau ốm để mà cúng, không có
đứa trẻ nào khóc suốt đêm để mà bế nó đến cho nó sờ tai ché, và cũng không có sự
kiện quan trọng nào sắp xảy ra để nó đổi màu đỏ như máu... Nhưng chủ nhân và
dân làng thì rất thành kính và tin tưởng. Tiếc rằng vì lý do tín ngưỡng, chúng
tôi đã không thể chụp ảnh được chiếc ché ấy, dù đã làm đủ mọi cách. Có khi nhờ
thế, nó lại... bí ẩn hơn chăng?
Và thật là, giờ tôi cũng không nhớ
cái ché này nó ở làng nào của Phú Thiện nữa. Nhưng trong dân gian còn nhiều
chuyện như thế. Nó dệt nên những huyền thoại, những huyền thoại có ích trong đời
sống. Và không chỉ huyền thoại, rất nhiều ché cổ, ché thiêng đang tồn tại ở các
buôn làng. Cổ luôn đi với thiêng.
Tôi
cũng từng rất hào hứng khi được giới thiệu ở nhà Amí Đanh ngay trung tâm xã Ia
Mlá (Krông Pa) có hai cái ché cổ, một cái trị giá ba mươi con bò tức bằng nửa
con voi tức khoảng một trăm năm mươi triệu và một chiếc trị giá hai mươi con bò
khoảng một trăm triệu (thời điểm cách đây 15 năm). Cái ché trị giá ba mươi bò
tên là Prung và cái hai mươi bò tên Chanr. Ché này không biết có thiêng không
nhưng rõ ràng là nó rất giá trị. Hỏi mấy đồng chí lãnh đạo xã người Jrai rằng tại
sao nó đắt tiền, bảo tại nó là ché Tuk (Dok). Hỏi tại sao ché Tuk lại quý lại đắt
thế thì... không biết!
Thực ra thì, cuộc sống, có khi cứ phải
linh thiêng hóa đi một tí như thế, nó lung linh hơn, bí ẩn hơn, khiến chúng ta
thăng hoa hơn. Có một nhánh du lịch tâm linh là vì thế?
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét