Thứ Bảy, 14 tháng 2, 2026

MAI NÚI ĐÀO RỪNG

 

Và bây giờ, cũng như đào vào Nam, mai vàng cũng đã ra Bắc khá nhiều. Tất nhiên như đã nói, tạo hóa vĩ đại đã sinh ra hoa ra mùa, ra thông thổ hợp tiết trời... nhưng, có hề chi, con người thời nay tứ tán, đi đâu mang theo hương sắc quê mình đến đấy. Nhiều khi chỉ là những ám ảnh, những dư ba, những hoài vọng... Nó nuôi con người trong những cảm xúc trong trẻo, cảm xúc thẩm mỹ, nhân văn và ăm ắp những khát vọng về những điều tốt đẹp đang chờ chúng ta phía trước... 

-------------------

 

Tôi lên Tây Nguyên từ xứ sở mai vàng. Ấy là giáp tết năm 1981, sau khi tốt nghiệp đại học, tôi đeo ba lô từ Huế lên Pleiku nhận công tác.

Đang là mùa khô. Nắng vàng như mật. Trong và nhẹ. Và bụi. Bụi bazan đỏ mù trời. Hồi ấy đa phần đường đất, chỉ con đường 14 và đường 19 rải nhựa, một nối Pleiku với biển, một nối các tỉnh Tây Nguyên với nhau. Còn đa phần đường đất. Tôi ngơ ngác giữa cái mùa lạ kỳ ấy. Huế, và miền Bắc, đang lạnh, rất lạnh. Và là mùa xuân.

Và mới té ra, Tây Nguyên nói chung, Pleiku nói riêng, nó chỉ có 2 mùa rõ rệt, là mùa mưa và mùa khô, nó như xa lạ với cái mùa xuân truyền thống đang rộn rã dưới đồng bằng kia.

Nhưng lại cũng lạ, một ngày ở Pleiku ấy, lại có tới 4 mùa. Mùa khô, bốn mùa trong một ngày càng rõ rệt. Đêm rất lạnh, có khi xuống dưới 10 độ. Sáng sớm hây hây như thu, trưa tất nhiên là hè và khoảng bốn năm giờ chiều, se nhẹ kèm sương như xuân. Tất nhiên phải ai tinh tế mới nhận ra sự chuyển mùa kỳ diệu ấy, nó rất nhẹ, rất khẽ, rất bâng khuâng...

Thì tôi đang kể về cái mùa khô đầu tiên tôi ở Pleiku ấy. Nó chả có tín hiệu gì của xuân, cho tới một hôm, tôi gặp một người đàn ông Jrai vác một cành đào ngoằng ngoẵng trên phố. Dừng hỏi, anh đi bán.

Nó như một cây củi, không hơn không kém. Đã bảo, tôi ở xứ Huế, dẫu không nhiều vì sau năm 1975 mới từ miền Bắc về quê, và cũng chỉ ở đấy mấy năm rồi lên Tây Nguyên, nhưng cái tết Huế, với lạnh, với mưa và mai vàng vẫn ám ảnh tôi. Nó là những cây mai được trồng trong vườn, được chăm bẵm uốn nắn trong những cái khuôn, khuôn vật chất và cả cái khuôn ước định bằng mắt, bằng tâm cảm của các nghệ nhân chăm mai. Và giáp tết thì nó bắt đầu nhu nhú nụ.

Đây, cành đào phải cao tới mấy mét, trơ trụi, chưa thấy gì, lơ thơ mấy chiếc lá.

Sau này lấy vợ, nhà ở thị xã Ayun Pa, tức tỉnh Phú Bổn cũ, nơi người bản địa Jrai sinh sống rất nhiều, thì mới biết, mai núi phần nhiều là xuất xứ từ đây.

Đi rừng, những người Jrai bản địa đánh dấu những cây mai họ gặp. Loại mai này mọc trong các hốc đá, bám vào đá, vào khô khát mà sống. Chỉ cần một dấu hiệu chứng minh đã có người thấy là nó sẽ không bị ai chiếm nữa. Rồi đến khoảng thời gian nhất định, theo kinh nghiệm của họ, thì họ chặt cành, vác đi bán.

Là họ chiều các ông bà người Kinh, chứ người Tây Nguyên bản địa không ăn tết nguyên đán như người Kinh. Họ có hệ thống lễ tết riêng, có điều kiện tôi sẽ xin trở lại. Bây giờ thì, họ đang mang mai núi đi bán.

Tùy cách, có người vác đi nghễu nghện thế, có người cho lên xe máy chở. À mà hồi ấy ít xe máy lắm, họ chất lên xe đạp và đẩy đi. Rồi có những người Kinh trong phố có điều kiện. Họ mua những cành mai ấy, chất đấy, bán dần.

Và cứ thế mai lừ lừ nở.

Và nó tiệp vô cùng với cái màu nắng, cái hương mùa khô, cái gió quần quật và cả cái màu đỏ của bụi bazan. Chả thế mà tôi thấy đa phần những người Kinh thời ấy ở phố Pleiku đều cắm mai núi trong nhà. Những cành mai khẳng khiu như củi nhưng cứ như là đợi đến đúng chiều ba mươi, thậm chí là giáp giao thừa thì đồng loạt bung nở. Tất nhiên nó còn do sự “điều tiết” đầy kinh nghiệm của chủ nhà. Có thể là hơ gốc, có thể là nước nóng lạnh chi đó, để đến giờ là nở, hân hoan nở, hết mình nở, nở để rồi... thành củi. Nở để dâng hiến, để báo tết đến cho con người.

Những cái ghè (ché) đựng rượu cần trở thành thứ để cắm mai núi rất tuyệt.

Nhưng nói thật, tôi vẫn thích đào hơn.

Nhớ hồi ấy, cả Pleiku có mỗi anh Sơn, một người bị tai nạn chiến tranh cụt cả hai chân nhưng làm vườn rất giỏi. Trong vườn của anh chủ yếu trồng hoa, thứ xa xỉ phẩm của thời bao cấp.

Và có hai cây đào.

Tôi chơi với bà chị người Hà Nội lấy ông sếp của tôi. Tết nào chị cũng xuống nhà anh Sơn đặt một cành đào. Và tôi thường xung phong đến vườn mang về. Mục đích chính là... xin một cành nhỏ, có năm chỉ bằng chiếc đũa, dài khoảng 2 gang, có ba bốn bông hoa, dăm nụ chúm chím. Về cũng đốt đốt hơ hơ rồi cắm vào cái... lọ. Sáng mùng một mà nó tưng bừng nở là ngồi và... nhớ Bắc.

Hồi ấy chưa vợ, tết về nhà hết sức cực khổ nên tôi thường chọn ở lại, xung phong trực tết. Nghỉ phép vào dịp tàu xe dễ mới về nhà, và được cộng những ngày xung phong trực tết ấy.

Thì đã nhắc, hồi nhỏ ấy, trước năm 1975 ấy, tôi sống ở Thanh Hóa, nơi mẹ tôi công tác. Nơi ấy có hoa đào. Ba tôi người Huế, cứ tết là ông nhắc mai vàng, nhưng mãi tôi cũng chả hình dung ra hoa mai là như thế nào, găm vào tôi chỉ là hoa đào.

Cũng không hẳn tết là phải có hoa đào như bây giờ. Tôi nhớ nhà anh bạn Phan Quốc Tự có cây đào ở bờ rào, tết nó tự do nở hoa, không bị chặt vào nhà để cắm. Và một lần anh bạn dúi cho tôi một quả đào. Té ra, đào nhà anh để lấy quả.

Dẫu thế trong tôi, nhất là những năm đã rời miền Bắc, rời cái mùa xuân rất đặc trưng, mùa xuân với cái rét mà có đi xa mới quay quắt nhớ, nên sau này tôi cố gắng hàng năm, giáp tết tôi đều làm một cú ngược Bắc để... thưởng rét, như một nghi lễ dù tôi viêm họng hạt mạn tính, thì hoa đào vẫn luôn luôn là mặc định của xuân, của tết.

Nhưng vẫn là thứ đào khuôn, đào phép, đào bị tay con người nhào nặn.

Cho đến năm, chương trình “cơm có thịt” của nhà báo Trần Đăng Tuấn làm lịch “Cơm có thịt” tết, toàn miền núi phía Bắc, toàn đào rừng.

Trời ạ, khi ấy tôi mới biết đào rừng nó đẹp đến như thế nào, mới thực sự ngẩn ngơ vì nó, ngẩn ngơ một cách tâm phục khẩu phục.

Nó sáng bừng lên giữa cái tiết xuân miền Bắc, dẫu xuân nhưng trời vẫn xậm xì. Chưa hết, còn mưa xuân. Cái bàng bạc của màn mưa xuân kia được những cánh đào rừng đốt lên, như những ngọn lửa ấm, như sưởi, như nâng đỡ cái xuýt xoa, cái co ro, tiệp với màu hồng trên má thiếu nữ, làm sáng bừng cả góc núi, làm cái lúng liếng của đôi mắt kia thêm thiêu đốt... núi rừng.

Mà núi Việt Bắc, nó khác núi Tây Nguyên. Một bên là núi trẻ, nhọn và cao. Một bên là núi già, tròn thoai thoải. Cái dáng núi nhọn hoắt ấy, nó như nâng, như đỡ, như làm nền cho cái vâm váp, xù xì, rêu phong của những cành đào núi.

Mà bây giờ, đào rừng đã về bản.

Tôi cực thích những bức ảnh với những bờ tường đá, phía sau là núi thẫm, mờ sương. Những cây đào bung hoa ở khoảng ấy. Tất nhiên thấp thoáng dưới gốc là những váy áo sặc sỡ. Trẻ con hay thiếu nữ đều đẹp, đều lung linh, đều sống động.  Nó ám ảnh đến lạ kỳ. Nó bắt mình phải tưởng tượng, phải dịch chuyển, phải mở lòng ra, phải nâng mình lên, mà đón, mà nhận, mà miên cảm trước cái đẹp...

Cái thứ hoa chỉ nở vào chính mùa xuân, vào tết ở xứ bắc trong cái lạnh xoa xuýt căm căm, trong lăn phăn mưa phùn như phấn hoa như tuyết của trời rắc lên tóc lên môi thiếu nữ đang ửng lên trong gió lạnh, trong mưa xuân ấy nó ám ảnh tôi vô cùng.

Và may mắn, bây giờ, tết đến, đào Bắc đã tràn ngập phương Nam. Nơi tôi ở cũng thế.

Cách đây chỉ khoảng vài chục năm, trừ Đà Lạt ra, Tây Nguyên làm gì có đào. Mà chả cứ Tây Nguyên, dân gốc Bắc sống từ nam Trung bộ trở vào, mỗi khi tết đến xuân về, đều nhớ đào đến quay quắt. Nhiều người làm giả hoa đào, cắt giấy hồng gắn vào mấy que tre. Những nhà khá giả mua được hoặc được tặng một cành đào Bắc, qua mấy ngày xe tàu xác xơ thế mà cứ cuồng lên vì sướng. Giờ thì khác, đào Bắc, chả có Nhật Tân đâu, toàn Nam Định Thái Bình và cả Thanh Hoá Nghệ An nữa... cứ kìn kìn hàng xe tải nối nhau chở vào khắp các tỉnh miền Nam và cứ hết veo véo. Té ra con người, cái sự hoài niệm, sự nhớ quê nó da diết lắm. Đầu tắt mặt tối kiếm ăn, ngẩng lên một chút là rưng rưng mà nhớ. Mắt đăm đắm lạc vào đâu đó. Giữa hào hển nắng phương Nam mà xuýt xoa hơi lạnh miền Bắc, mà bổi hổi mặt đê tơi bời gió...

Nhưng đào rừng ấy, chưa vào tới phương Nam, hoặc có thì rất ít, chỉ những người “có điều kiện” gửi tặng nhau bằng đường máy bay. Lại nhớ cái truyền thuyết vua Quang Trung Nguyễn Huệ, khi vào thành Thăng Long đã cho người phi ngựa trạm mang một cành đào vào Phú Xuân tặng công chúa Ngọc Hân. Nếu là chuyện thật thì nó là một việc phi thường của tình yêu và sức người. Nếu truyền thuyết thì nó cũng chứng tỏ dân ta hết sức lãng mạn...

Và bây giờ, cũng như đào vào Nam, mai vàng cũng đã ra Bắc khá nhiều. Tất nhiên như đã nói, tạo hóa vĩ đại đã sinh ra hoa ra mùa, ra thông thổ hợp tiết trời... nhưng, có hề chi, con người thời nay tứ tán, đi đâu mang theo hương sắc quê mình đến đấy. Nhiều khi chỉ là những ám ảnh, những dư ba, những hoài vọng... Nó nuôi con người trong những cảm xúc trong trẻo, cảm xúc thẩm mỹ, nhân văn và ăm ắp những khát vọng về những điều tốt đẹp đang chờ chúng ta phía trước...

Văn Nghệ Thái Nguyên tết 2026.


 Hoàng Mai xứ Huế.
Mai Cần Thơ

Đào gần rừng (nhưng không phải mùa hoa).
 

Cây đào nhà cháu mua về trồng ở ngôi nhà cũ, Pleiku, hoa rất đẹp, to và năm nở 2 mùa, mùa mưa nữa nên hồi nhà cháu có cái tùy bút: "Hoa đào giữa mùa mưa", sau làm nhà mới, nó bị phá mất.


 

 

 

 

 

Không có nhận xét nào: