Luận niệm
sinh và Cảm pháp thi Bùi Giáng
Đỗ
Ngọc Yên
I. Phiêu
Bùi Giáng thấy mặt trời trước tôi hai giáp. Ông quê
Quảng Nam, tôi quê Thanh Hóa,
chả liên quan gì đến nhau. Bình sinh Bùi Giáng sống và tồn tại ở nơi tôi chưa đến
và chưa gặp ông bao giờ. Tạm gọi là hai miền “xa ngái hoắc”. Nhưng ông được nhiều người biết đến và yêu mến
thương cũng nhiều nhiều trên khắp cõi nhân gian. Cầm bút viết về một người như
ông vừa quá khó đối với tôi, vì đã có không ít người từng viết về cuộc đời cũng
như sự nghiệp thơ ca của ông rồi. Nhưng cũng là một lợi thế chính vì cái miền “xa ngái hoắc” giữa ông và tôi. Rồi nữa,
đúng hay sai, hay hoặc dở, thì ông cũng đã đi ra khỏi cõi người từ 15 năm trước
(1998), dẫu có điều chi không bằng lòng, thì ông cũng không đội mồ lên mà cãi
tôi được. Ngay cả khi hiện hữu giữa cõi đời này, ông cũng nào đâu đã một lần
bận tâm đến điều ấy chi mô. Chính trong Di cảo Rớt hột phiêu bồng ông đã từng nói vậy: “Mong mỏi một điều duy nhất: đừng bao giờ bạn đọc bận tâm về bất cứ lời
bàn bạc nào thật hay giả của bất cứ “bạn hữu” nào đó xưa nay của tôi ở Việt Nam
hoặc ở hải ngoại”- Kính bút- Bùi Giáng, 93”. (1)
II. Xênh- Niệm sinh Bùi Giáng
Tôi biết sẽ có người không thông luận, khi tôi cho
rằng Bùi Giáng đã không SỐNG theo nghĩa thông thường như những người khác hơn
70 năm trên cõi đời này, mà chỉ TỒN TẠI. Hay nói một cách khác, Bùi Giáng chỉ
xin CÕI NGƯỜI, (đại loại như xin công an khu
vực) một cái thẻ tạm trú ở trần thế này để cư ngụ (tồn tại) cho xong danh phận,
như ông đã hiện hữu, nó chỉ là CÕI NHÀM chăng (!?)
Dường như 70 năm có lẻ, nếu bảo Bùi Giáng đã sống thì
chỉ là “sống tạm, gửi nhờ” cái phần
xác mà thôi, còn phần hồn phách chẳng biết ông gửi đâu. Cái mặt đất của hơn 7
tỉ sinh linh đang cư ngụ, cách đây 15 năm về trước, có lẽ không có tên Bùi
Giáng. Hoặc giả, nếu có chỉ là một Bùi Giáng gầy còm, râu tóc bới tung, mặt mày
đen đúa, áo quần tả tơi, nói năng lộn xộn, mà bất kỳ ai cũng có thể “mục sở thị” được. Tuyệt nhiên không hề có
một Bùi Giáng thông tuệ, mẫn tiệp, luôn ý thức rất rõ mình là ai và cõi đời này
là gì, một Bùi Giáng sống chỉ để cật vấn “to
be or not to be” (tồn tại hay không tồn tại), nên lúc nào trong con người
ông cũng chất chứa đủ mọi sắc màu, mùi vị của cuộc đời hư hư, thực thực, điên mà
tỉnh, thơ mà triết, uyên bác mà dân dã, cao thượng mà bỡn cợt, thông thái mà dí
dỏm, bất cần đời mà ưu thời mẫn thế,... một Bùi Giáng như là tất cả, nhưng không
là gì cả.
“Hoặc rằng người cũng là tôi
Hay là tôi cũng là tôi như người
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Ấy rằng tinh thể đười ươi
Lời rằng quyết tuyệt và tươi vui và
Ấy rằng một cũng là ba
Là hai mai một mốt là hôm nay”.
(Xóa
nhòa).
Sẽ là không quá, ở cõi tạm này, tôi ít thấy ai có
nhiều phẩm chất của sinh linh tồn tại như ông. Người đấy cũng là ma đấy. Thiên
thần đấy cũng là ác quỷ đấy. Đời đấy cũng là đạo đấy. Với ông “cái muôn” cũng là “cái một”, không có ranh giới, sự phân chia thanh hay tục, đạo hay
đời, hữu hay vô. Ở Bùi Giáng tất cả sự hiện tồn đều “mờ mờ nhân ảnh”. Trong mắt ông, thế giới là vô thủy, vô chung. Mọi
thứ qua mau như chớp mắt, nhưng cũng hiện tồn vĩnh hằng như toàn năng vũ trụ
trong thẳm sâu bản thể tồn tại của chính mình. Ngay cả con người tưởng ông bằng
da, bằng thịt, có ăn ngủ, đi lại, vui buồn như bất cứ một ai khác, nhưng đối
với nhiều người chỉ đến thế và chỉ là thế, còn đối với Bùi Giáng tự căn mệnh ông
vượt qua cái sự đến thế và cái sự là thế.
Đã sinh ra làm người, tuyệt đại đa số, ai cũng sợ chết.
Nếu một người nào đấy nói không sợ là tự lừa dối mình và dối người. Riêng có
một người nói không sợ chết thì mọi người có thể tin toàn phần. Đấy chính là
Bùi Giáng. Sống với ông có nghĩa là đem cả thể xác lẫn tâm hồn “bán xỉ” cho cuộc đời, dứt khoát ông
không chịu “bán lẻ” dù ai đấy có trả
giá cao hơn. Trước khi thôi sống, trong ý nghĩa của sự không tồn tại trên cõi
dương gian này về mặt thể xác, chứ chưa hẳn là bất tồn về mặt tinh thần, Bùi
Giáng đã ý thức rất rõ về điều ấy và ông đã “tập” chết không biết bao nhiêu lần. Thậm chí ông còn đùa giỡn với
cái chết như ông đã từng giỡn đùa với cái sống. Đối với ông sống hay chết đều
bình đẳng, có nghĩa và cũng vô nghĩa như nhau. Nên sống đã không có gì đáng bận
tâm thì chết cũng chẳng qua là sống theo một cách khác, nên chăng chỉ là sự đổi
món cho bớt nhàm mặt, nhạt miệng, mà thôi, nào có gì vui thú, càng không phải
bận tâm đâu:
“Anh chào em, anh chết suốt thiên thâu
Là chết giỡn cho vui chơi tuế nguyệt
Cho tháng ngày mừng rỡ với lá cây
Cho ngày tháng chịu chơi với lá cỏ”
Hay:
“Anh sẽ chết như chưa bao giờ chết
Anh sẽ về thăm viếng các em ôi”
“Quả thật, nếu một người thường xuyên tập chết, chết
hằng giây hằng phút hằng giờ, cứ đi đi về về giữa hai- bờ- sống- chết, chết
giỡn chơi liên miên bất tận mãi như thế thì cái chết đâu còn là nỗi ám ảnh đáng
sợ của kiếp nhân sinh! Vượt qua không gian vật lý hữu hình, bỏ lại sau lưng tất
cả, hằng tắm gội mình trong dòng sông ánh sáng tâm linh- con người có thể sẽ đi
qua nỗi sợ hãi tâm lý thường trực và vỡ vạc ra rất nhiều điều đáng giá ngàn
vàng. Cuộc hành trình đi tìm chân ngã của mỗi thực thể sống, càng trải qua
nhiều bài học khác nhau, càng tích lũy thêm nhiều kinh nghiệm quý báu, giúp cho
lịch trình tiến hóa của tâm thức diễn ra nhanh chóng hơn. Tiếc rằng, còn quá ít
người có mặt trên trần gian này được học bài học này một cách căn cơ, có hệ
thống. Học cái chết để giúp cho cái sống đời đời!
Chết giỡn là bài thực tập thường xuyên, liên tục của
bậc đại trí thượng thừa, một hình thức hành thiền cao nhất. Chỉ có những người
học thiệt, làm thiệt mới thấu suốt cái lẽ “im
lặng…một mình!” (2)
Với một con người quan niệm về lẽ sinh tồn, cái sống
và cái chết như vậy, thì hiển nhiên thế giới con người trong mắt Bùi Giáng mong
manh như giọt sương mai trên ngọn cỏ, thứ ngọc châu của đất trời có thể vỡ òa
ra bất cứ lúc nào mà không hay biết, nhưng khi còn vẹn nguyên nó có thể thu cả
vũ trụ bao la vào trong mình. Vì thế, hơn 70 năm tồn tại ở “cõi nhàm” này, Bùi Giáng luôn cảnh giác
với thời khắc ngọc châu vỡ òa, tan biến, nên ông luôn phải “online” với chính mình trong mọi lúc,
mọi nơi, mặc cho vũ trụ vần xoay, cõi đời điên đảo, nhưng dường như không giây
phút nào ông có thể “offline” được với
chính mình.
Nhưng mà lạ, với nhân sinh và cõi đời này Bùi Giáng lại
luôn làm ngược lại, không bao giờ “online”
mà chỉ “offline”. Bởi thế người đời
bao giờ cũng nhìn ông như một “vật thể lạ”
từ một nơi nào đấy quẳng xuống cho thế giới loài người chiêm nghiệm hay là một
“người ngoài hành tinh”, không biết
sống một cuộc đời bình thường như bao người khác, mà chỉ tồn tại, gửi tạm thân
nơi “cõi nhàm”, rồi đi. Cái duy nhất
mà Bùi Giáng để lại cho người đời là một sự ngơ ngác, u ơ trong khát khao kiếm
tìm để rồi hụt hẫng và thất vọng khi tìm mãi mà không thấy đích thực Bùi Giáng
đâu.
“Xưa nay trong đạo lạc loài
Chữ điên đảo cũng có ngoài có trong
Ngoài cuồng loạn, trong thong dong
Trong ngoài bức bách tấm lòng dung phôi”
(Vô thường)
III. Xênh- Cảm pháp thi Bùi Giáng
Có người bảo, bình sinh Bùi Giáng làm thơ ít, vì chỉ 2
năm 1962- 1963 ông đã “sản xuất” liền
một mạch 6 tập, trong đó có 5 tập in trong năm 1963. Thế rồi thôi. Mãi gần 10
năm sau ông lại mới “ngứa nghề” thơ
phú đôi ba bài nữa. Nói vậy, nghe ra thật đáng xấu hổ với chí ít một người như
Bùi Giáng. Hai năm sáu tập, con số 2 và con số 6 là không nhiều (nhỏ) trong dãy
số tự nhiên. Nhưng nếu là số thứ tự (xếp hạng) ai dám bảo là ít (hay nhỏ), mà
ít hay nhỏ còn được nhìn theo con mắt nào mới được chứ. Nhất là đối với thi ca
các cụ đã dạy rằng “Quý hồ tinh bất quý
hồ đa”. Dù chỉ trong 2 năm với 6 tập, thậm chí với 6 bài, 6 câu, 6 chữ mà
đã tạo nên một THẾ GIỚI THƠ BÙI GIÁNG. Nghĩ mà kinh.
Cũng cần nói thêm rằng, thực ra cho đến trước khi xa “cõi nhàm” này, ông đã cho in thêm 4 tập
nữa là Sa mạc phát tiết (1972), Mùi hương xuân sắc (1987), Rong rêu (1993), Đêm ngắm trăng (1997). Như vậy đời thơ của người “vô sinh- vô diệt” này có khoảng 10 tập.
Ngoài ra còn có các tập thơ in theo lối tuyển hay chọn tùy duyên mỗi người, sau
khi ông đã ra đi, như Thơ Bùi Giáng (Montréal, Canada, 1994), Thơ
Bùi Giáng (California,
Mỹ, 1994), Mười hai con mắt (2001), Thơ vô tận vui (2005), Mùa màng tháng tư (2007)…Bên cạnh
đó, từ năm 1966- 1974, ông còn có tới 14 cuốn sách dịch, và cũng ngần ấy cuốn tạp
văn. Rồi giảng luận, triết thuyết, nhận định, mỗi loại cũng có 4 cuốn nữa.
Như vậy, có thể thấy ở cái “cõi nhàm” này, không có nhiều người lao tâm khổ
tứ, dám biến mình thành “phu chữ” (chữ của nhà thơ Lê Đạt) với công việc văn chương, ngôn từ
như ông.
Đọc gần 600 bài thơ, phần lớn được Bùi Giáng viết theo
thể lục bát. Biên độ đề tài, chủ đề được ông mở đến vô cùng: từ những điều linh
thiêng nhất như thần, phật, vua, chúa, thầy cô cho đến những vật bình thường
nhất như cỏ, cây, hoa, chuối, chuồn chuồn, châu chấu,... Về mặt ngôn ngữ, Bùi
Giáng là người luôn quay lưng lại các quy tắc ngữ pháp và chính tả thông thường
trong tiếng Việt, mà ông đã tự sáng tạo ra một thế giới ngôn ngữ riêng của
mình. Chẳng hạn như Bùi Giáng thường sử dụng nhiều hư từ, các từ công cụ như
giới từ, liên từ, trạng từ và dùng nhiều ngôn từ gần với đời sống, như ngôn ngữ
nói để làm thơ. Nhưng ông cũng không ngại sử dụng các khái niệm, thuật ngữ thường
chỉ được sử dụng trong các công trình khoa học, khi cảm thấy cần thiết.
Dù viết về đề tài nào, sử dụng loại ngôn ngữ nào, Bùi
Giáng vẫn có một cái gì đấy mà nếu một ai đó không được trời phú cho, thì dù có
dùi mài kinh sử, tu luyện đến đâu cũng chẳng thể nào làm được như ông. Đấy
chính là phẩm chất mà Nguyễn Hưng Quốc gọi là Bùi Giáng: “ngủ ra thơ, thở ra thơ, đi ra thơ, đứng ra thơ. Chứ không phải nghĩ
thơ, làm thơ” (3). Đây
là một ý kiến khá xác đáng. Bởi lẽ văn chương nghệ thuật nói chung, nhất là đối
với thơ ca chuộng lẽ tự nhiên, không thị cầu kỳ uốn éo, chạm khắc, gọt tỉa,...
Vì thế, thơ ông tự nhiên vượt qua mọi lằn ranh thông
thường, những cái đã bị đóng đinh trong tâm thức người đời. Thơ ông đã hòa làm
một với muôn loài. Ở đấy không có giới hạn cho sự cao sang hay nghèo hèn, cũng
không có giới hạn cho những cái được gọi là thơ hay phi thơ, truyền thống hay
hiện đại, mà chỉ là một vũ trụ toàn năng của bản thể tồn tại.
Trong bài Gởi thôn nữ Vĩnh Trinh, ông buông
bút:
“Tấm quần em rách đường tơ.
Cỏ trong mình mẩy bâng quơ mọc nhiều,
…
Bây giờ em đứng nơi đâu.
Cỏ trong mình mẩy em sầu ra sao”.
Đây không phải là thủ pháp “đố thô, giảng thanh/ miệng mời anh hai tay banh
chách” (câu đố dân gian giảng là cái túi đựng trầu), mà Bùi Giáng gọi đích
danh sự vật “cỏ”. Nhưng cỏ là gì và
mọc ở đâu mới là chuyện đáng nói. Cái tài của ông ở đây không giống với tác giả
dân gian và các nhà thơ khác chính là ở chỗ Bùi Giáng sử dụng ngôn từ vừa đủ
thô, lại vừa đủ thanh, để người đọc có quyền thả trí tưởng tượng của mình mà liên
tưởng đến cái “miền sâu thẳm” của người con gái, cái mà tác giả không
cần nhắm tới, mà chỉ thấy sao nói vậy theo kiểu “tự nhiên như nhiên”, thế thôi. Ấy vậy mà thấm, mà đằm, giống như
thứ rượu cuốc lủi nút lá chuối xưa mà các bậc hiền nho quân tử tin dùng. Dí dỏm
đấy, mà cao diệu đấy. Tôi chưa nói đến những
câu thơ trên miêu tả rất đúng với tâm lý lứa tuổi và đặc trưng vùng miền của các
cô thôn nữ miền sơn cước quê ông.
Ở bài thơ Gió, Bùi Giáng đã miêu tả cái cơn (ngọn)
gió sao mà tự nhiên đến thế, cứ như là ông giơ tay bắt nắm được gió trời vậy. Ở
đây người đọc dường như không thấy ông “làm
thơ” hay “nghĩ thơ” chút nào, mà
ngôn từ cứ thế tự nhiên tuôn trào, xếp thành hàng với nhau:
“Gió qua đồi núi cheo leo
Gió chào em Mọi bên đèo đầu truông
Giữa đèo rốt cuộc một muôn
Bên giòng suối mát cởi truồng ngồi chơi
Nhân vì có việc qua đồi
Thấy em xinh đẹp tôi ngồi ngắm em
Thế rồi công việc bỏ quên
Chỉ còn có biết ngắm em thôi mà
Về sau khắp
bến giang hà
Nơi nào cũng thấy ngọc ngà đèo truông”
Ở bài thơ này đáng chú nhất là hai chữ “một muôn” ở câu thứ ba: “Giữa đèo rốt cuộc một muôn”. Có người sẽ nghĩ rằng Bùi Giáng bí ngôn từ hay sao
mà gieo vần vào một tính từ không xác định về số lượng như vậy: “muôn”? Một tài thơ như ông chắc chắn sẽ
không có chuyện ấy xảy ra. Vậy chữ “muôn”
ở đây có ý nghĩa gì. Về nghĩa từ vựng chữ “muôn”
dùng để chỉ số nhiều không xác định như muôn năm, muôn đời, muôn kiếp,…nhưng về
nghĩa bóng chữ muôn có thể được hiểu là toàn thể, tất cả, vô cùng, vô tận, vô
hạn độ, không xác định giới hạn. Đặt chữ “muôn”
bên cạnh và đứng đằng sau chữ “một”,
tính từ chỉ số lượng xác định, làm bật ra một ý nghĩa triết thuyết thật sự ghê
gớm, mà chỉ có Bùi Giáng mới có thể viết được như vậy. Với anh, một mình em
cũng là tất cả. Em là một vũ trụ vô cương, vô biên, không phải là hình khối hay
cân nặng, chiều cao, mà là sắc đẹp ngọc ngà. Bởi lẽ sắc đẹp của người con gái
bao giờ cũng vừa là muôn lại vừa là một. Sắc đẹp ấy tuy là muôn đấy, nhưng không
phải là cái treo lơ lửng trên trời xanh mà là của em, thuộc về em, một cô gái
Mọi. Chữ Mọi ở đây có nhiều nghĩa khác nhau. Một
là tên riêng của một người con gái cụ thể. Hai là chỉ một hạng, loại người nào
đấy như “man ri, mọi rợ” theo kiểu
người Tàu trước đây gọi người Việt ta. Ba là, Mọi là tên mà Bùi Giáng dùng để
gọi những cô gái miền sơn cước, nơi quê ông. Bốn là, Mọi cũng là “muôn”, một tính từ chỉ số lượng không
xác đinh. Chẳng hạn như: mọi cái, mọi nhà, mọi nơi, mọi lúc,…
Về sau khắp
bến giang hà
Nơi nào cũng thấy ngọc ngà đèo truông”
Chữ “khắp” ở
đây cũng có nghĩa tương tự như các chữ “mọi”,
“muôn” và cụm từ “nơi nào”. Chính vì thế, bài thơ đem đến
cho người đọc, người nghe nhiều phán đoán về ngữ nghĩa của ngôn ngữ thi ca cũng
như sự ám ảnh lạ thường mang vóc dáng và đặc trưng triết thuyết Bùi Giáng.
Đã là thi sĩ, qua đèo truông thấy cảnh ngoạn mục, nên
thơ đến thế mà không dừng lại ngắm, còn nghĩ đâu đâu, không quên công việc mới
là chuyện lạ, còn điên hơn cả Bùi Giáng.
Đến bài Mắt buồn, Bùi Giáng đích thực đang online với chính mình. Ông offline với tất cả mọi người khiến chúng
ta rất khó tìm ra chiếc chìa khóa vàng của ông đâu để giải mã bài thơ sau:
“Bóng mây trời
cũ hao mòn
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão giông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một Giêng
Tạ từ tháng Chạp quay nghiêng
Ấn trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con”
Chiêm bao náo động riêng còn hai tay
Tấm thân với mảnh hình hài
Tấm thân thể với canh dài bão giông
Cá khe nước cõng lên đồng
Ruộng hoang mang khóc đêm mồng một Giêng
Tạ từ tháng Chạp quay nghiêng
Ấn trang sử lịch thu triền miên trôi
Bỏ trăng gió lại cho đời
Bỏ ngang ngửa sóng giữa lời hẹn hoa
Bỏ người yêu, bỏ bóng ma
Bỏ hình hài của tiên nga trên trời
Bây giờ riêng đối diện tôi
Còn hai con mắt khóc người một con”
Vì sao hai con mắt vẫn còn đấy cả thôi, mà Bùi Giáng lại
chỉ “khóc người một con”? Với tất cả
chúng ta, người còn đủ hai con mắt mà chỉ khóc có một con là việc không thể.
Vậy mà Bùi Giáng làm được. Quả thật là tài! Nhưng ở một chiều kích khác, dân
gian có câu thành ngữ “nhìn đời bằng nửa
con mắt”. Nửa ở đây không phải là một phần hai mà là một nửa của hai, tức
là một. Vậy chăng Bùi Giáng khóc người, nhìn đời chỉ bằng một nửa con mắt. Thế
còn nửa kia ông để đi đâu hay với ông chỉ nhìn bằng một nửa là đã quá đủ rồi,
còn một nửa con cất đi để dành làm vốn cho kiếp sau. Vẫn còn một khả năng nữa
xảy ra là ông chỉ có một con mắt khóc người, còn một con mắt để khóc mình chăng?
Chà một câu thơ viết ra mà chữ nghĩa vừa ám ảnh, vừa trở nên bất định đến thế,
ở đời mấy người làm
được
như ông?
Cái tài của Bùi Giáng chính là ở chỗ ông chỉ cần “thở ra thơ, ngủ ra thơ, đi ra thơ, đứng ra
thơ”, thế mà làm cho người đời không bao giờ ngẫm hết được ông định “chơi” nhau kiểu gì. Thơ đối với ông vừa là
một vũ trụ mà ở đó mọi ngôn từ đều luôn bất lực trong việc giải mã mọi điều,
mọi nhẽ, vừa là niệm sinh của riêng ông. Đấy chính là thi pháp- phong cách thơ
Bùi Giáng.
IV. Tạm khép
Ông nói về thơ của mình như thế này: “Thơ tôi làm...là một cách dìu ba đào về chân
trời khác. Ði vào giữa trung tâm bão giông một lúc thì lập thời xô ngôn ngữ
thoát ra, phá vòng vây áp bức. Tôi gạ gẫm với châu chấu chuồn chuồn, đem phó
thác thảm họa trần gian cho chuồn chuồn mang trên hai cánh mỏng bay đi. Bay về
Tử Trúc Lâm, bay về Sương Hy Lạp, ghé Calvaire viếng thăm một vong hồn bát
ngát, rồi quay trở về đồng ruộng làm mục tử chăn trâu. Làm mục tử chăn trâu
không xong bỏ trâu bò chạy lạc, phá phách mùa màng khoai sắn, thì tôi chạy về
bẩm báo với ni cô cho phép con chuồn chuồn của tôi cư lưu một phút giây trong
linh hồn bao dung phương trượng. Ni cô xua đuổi tôi thì tôi ra bờ sông nằm ngủ
khóc một mình thơ dại giữa chiêm bao. Trong chiêm bao, thơ về lãng đãng thì từ
đó vần bất tuyệt cũng lãng đãng chiêm bao”(4).
Thơ ông chính là tiếng lòng đồng vọng từ trong cõi
mộng, chiêm bao của một Bùi Giáng bất khả hạn. Nó như giòng suối tự nhiên bất
tận tuôn trào nguồn mạch không một thế lực hay sức mạnh nào đắp đập, ngăn giòng
nó được, ngay cả sau khi ông rời “cõi
nhàm” để về “cõi lạc” từ 15 năm về trước.
Ở trong nước, đối với giới lý luận, phê bình văn học
miền Bắc, chỉ từ sau đổi mới (1986-1987), Bùi Giáng mới được bàn tới ít nhiều. Còn
ở miền Nam, qua quan sát, tôi thấy đàm luận thì ít mà bắt chước lại nhiều, với
dăm ba nhóm thơ cũng tập tọng làm theo kiểu Bùi Giáng, nhưng xem ra còn chưa đủ
“chưởng lực”, còn ngô ngọng lắm, chủ
yếu thiên thẹo mang tính chất hoặc là ám chỉ chính trị hoặc là tục tĩu, dơ dáy.
Tuy nhiên, phần lớn các nhà nghiên cứu, phê bình văn
học và các nhà thơ trong nước đều thừa nhận Bùi Giáng là một tài năng thơ trác tuyệt,
mà giới cầm bút từ thế hệ ông cho đến nay không có mấy. Có thể ở hải ngoại,
không khí văn chương cởi mở hơn nên đã được đàm luận nhiều và có những cái nhìn
đa chiều, khách quan và thỏa đáng hơn chăng? Vì tôi không có nhiều cơ hội thông
diễn về thơ phú văn chương với các đồng nghiệp ở hải ngoại, nên tôi cứ viết
theo cảm nhận chủ quan của mình. Hy vọng sẽ được mọi người quan tâm, chia sẻ.
Hà Nội, 18/9/2013
Đ.N.Y
………………
Chú thích
1),(2). Đầu
năm, đọc lại “Rớt hột phiêu bồng” của Bùi Giáng. Phạm
Phúc.
tiasang.com.vn
(3). Xem: dactrung.net
(4). Thi ca tư tưởng, Bùi Giáng .Ca Dao, Saigon, 1969.
……………….
3970 chữ, 8 trang
6 nhận xét:
Nhà thơ BG.không những sáng tạo thơ
văn mà còn tự (sáng) tạo đường đời không giống bất cứ ai của ông.
Đối với trường hợp độc nhất vô nhị
này,giới văn nghệ sĩ không thể nào
tìm ra được ở miền Bắc,dù có đốt đuốc đi tìm cũng thất bại.
Chính đó là lý do tại sao giới văn nghệ sĩ miền Bắc đều kính phục thi sĩ BG.,một con người tự do đích thực và đúng nghĩa !
...Người Duy Xuyên có lệ thương yêu ai thì gọi người ấy là “con mọi”, “thằng mọi”. Tôi lấy làm tiếc khi có vài người nghiên cứu văn học hiểu nhầm chữ “mọi” trong thơ Bùi Giáng...
(Người vợ của Bùi Giáng - Vũ Đức Sao Biển}
..."ông gọi bà là “con mọi nhỏ”. Người Duy Xuyên có lệ thương yêu ai thì gọi người ấy là “con mọi”, “thằng mọi”. Tôi lấy làm tiếc khi có vài người nghiên cứu văn học hiểu nhầm chữ “mọi” trong thơ Bùi Giáng"...
(Người vợ của Bùi Giáng - Vũ Đức Sao Biển)
Xin phép làm 2 câu Với Bùi tiên sinh:
Thưa rằng đời có long đong
Nhưng tình vẫn sống bên bờ hồn nhiên
2 câu lục bát đó Bùi Giáng nghe chết liền !
Tớ còn nghe không vô nữa chứ nói chi tiên sinh Bùi Giáng. Xin hỏi nhỏ tí nhá, người viết 2 câu ấy có phải " đệ tử " của anh Đăng Hạ không ạ?
Đăng nhận xét